Tất tần tật kiến thức về thiết kế đồ họa,giáo trình Photoshop , giáo trình AI, giáo trình Corel,Công nghệ phần mềm,Software testing, dành cho những bạn yêu đồ họa, học thiết kế đồ họa qua mạng ^^

Học kiểm thử phần mềm - Bài 1- Cô đọng lý thuyết

♠ Đăng bởi Unknown in at 5:41 PM
Chào các bạn, vì mục tiêu của mình là xây dựng một topic

học kiểm thử phần mềm tự động

(automation testing)  nên mình sẽ đi nhanh qua phần lý thuyết , chỉ tóm tắt những phần cô đọng nhất, thực tế nhất mà một Tester cần có . 
Hoc kiem thu phan mem


Nội dụng : 
I. Tổng quan Kiểm thử phần mềm 
- Kiểm thử phần mềm là đảm bảo chương trình hoạt động tốt , đảm bảo đúng yêu cầu khách hàng và không phát sinh ra lỗi trong quá trình sử dụng
- Có 2 loại kiểm thử : Kiểm thử họp đen và kiểm thử họp trắng

+ Kiểm thử họp trắng:  Can thiệp vào code , biết được nội dung bên trong code ( thường là giai đoạn Unit test - phần này ở công ty mình thường là Dev thực hiện , sau đó Leader/ Người review code thực hiện ) 
+ Kiểm thử họp đen :  Không quan tâm cấu trúc bên trong, kiểm tra dữ liệu ra vào ứng với các trường họp trong đặc tả 


II. Quy trình kiểm thử:



1.  Nhận yêu cầu ( Spec) , thiết kế (PSD...)   và đọc hiểu 
Học kiểm thử phần mềm


2. Viết Test plan và Check list và testcase ...( cũng trong thời gian này, developer dựa vào spec để code) gửi lên PM hoặc Leader 
Học kiểm thử phần mềm

3.  Test Giao diện (  nếu phần giao diện (Front end)  và chức năng(Back end)  phát triển riêng ) hoặc test từng Component (Nếu giao diện và chức năng phần nào xong phần đó ) 
Học kiểm thử phần mềm

4. Kiểm tra tích họp (Intgration Test) : Kiểm tra intergrate giữa chức năng và giao diện hoặc các component tích họp với nhau xem trong quá trình giao tiếp có phát sinh lỗi hay không 


Hai mục tiêu chính của Integration Test:

 Phát hiện lỗi giao tiếp xảy ra giữa các Unit.

- Tích hợp các Unit đơn lẻ thành các hệ thống nhỏ (Subsystem) và cuối cùng là nguyên hệ thống hoàn chỉnh (System) chuẩn bị cho kiểm thử ở mức hệ thống (System Test).

 Có 3 loại kiểm thử hộp đen trong Integration Test:
- Kiểm thử chức năng (Functional Test): Tương tự Black Box Test, kiểm thử chức năng chỉ chú trọng đến chức năng của chương trình, mà không quan tâm đến cấu trúc bên trong, chỉ khảo sát chức năng của chương trình theo yêu cầu kỹ thuật.
Kiểm thử hiệu năng (Performance Test): Kiểm thử việc vận hành của hệ thống.
Kiểm thử khả năng chịu tải (Stress Test): Kiểm thử các giới hạn của hệ thống.

Học kiểm thử phần mềm

5. Kiểm thử hệ thống (system test) 
- Mục đích System Test là kiểm thử thiết kế và toàn bộ hệ thống (sau khi tích hợp) có thỏa mãn yêu cầu đặt ra hay không.

- System Test bắt đầu khi tất cả các bộ phận của phần mềm đã được tích hợp thành công. Thông thường loại kiểm thử này tốn rất nhiều công sức và thời gian. Trong nhiều trường hợp, việc kiểm thử đòi hỏi một số thiết bị phụ trợ, phần mềm hoặc phần cứng đặc thù, đặc biệt là các ứng dụng thời gian thực, hệ thống phân bố, hoặc hệ thống nhúng. Ở mức độ hệ thống, người kiểm thử cũng tìm kiếm các lỗi, nhưng trọng tâm là đánh giá về hoạt động, thao tác, sự tin cậy và các yêu cầu khác liên quan đến chất lượng của toàn hệ thống.

-  Điểm khác nhau then chốt giữa Integration Test và System Test là System Test chú trọng các hành vi và lỗi trên toàn hệ thống, còn Integration Test chú trọng sự giao tiếp giữa các đơn thể hoặc đối tượng khi chúng làm việc cùng nhau. Thông thường ta phải thực hiện Unit Test và Integration Test để bảo đảm mọi Unit và sự tương tác giữa chúng hoạt động chính xác trước khi thực hiện System Test.

 - Sau khi hoàn thành Integration Test, một hệ thống phần mềm đã được hình thành cùng với các thành phần đã được kiểm tra đầy đủ. Tại thời điểm này, lập trình viên hoặc kiểm thử viên bắt đầu kiểm thử phần mềm như một hệ thống hoàn chỉnh. Việc lập kế hoạch cho System Test nên bắt đầu từ giai đoạn hình thành và phân tích các yêu cầu.

 - System Test kiểm thử cả các hành vi chức năng của phần mềm lẫn các yêu cầu về chất lượng như độ tin cậy, tính tiện lợi khi sử dụng, hiệu năng và bảo mật. Mức kiểm thử này đặc biệt thích hợp cho việc phát hiện lỗi giao tiếp với phần mềm hoặc phần cứng bên ngoài, chẳng hạn các lỗi "tắc nghẽn" (deadlock) hoặc chiếm dụng bộ nhớ. Sau giai đoạn System Test, phần mềm thường đã sẵn sàng cho khách hàng hoặc người dùng cuối cùng kiểm thử chấp nhận sản phẩm (Acceptance Test) hoặc dùng thử (Alpha/Beta Test).

 - Đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và tính chính xác, khách quan, System Test thường được thực hiện bởi một nhóm kiểm thử viên hoàn toàn độc lập với nhóm phát triển dự án. Bản thân System Test lại gồm nhiều loại kiểm thử khác nhau, phổ biến nhất gồm:
  +  Kiểm thử chức năng (Functional Test): Bảo đảm các hành vi của hệ thống thỏa mãn đúng yêu cầu thiết kế dựa trên use case hoặc tính năng nghiệp vụ và nguyên tắc nghiệp vụ

  + Kiểm thử hiệu năng (Performance Test): Bảo đảm tối ưu việc phân bổ tài nguyên hệ thống (ví dụ bộ nhớ) nhằm đạt các chỉ tiêu như thời gian xử lý hay đáp ứng câu truy vấn...

+  Kiểm thử khả năng chịu tải (Stress Test hay Load Test): Bảo đảm hệ thống vận hành đúng dưới áp lực cao (ví dụ nhiều người truy xuất cùng lúc). Stress Test tập trung vào các trạng thái tới hạn, các "điểm chết", các tình huống bất thường như đang giao dịch thì ngắt kết nối (xuất hiện nhiều trong kiểm tra thiết bị như POS, ATM...)...
+  Kiểm thử cấu hình (Configuration Test).

 + Kiểm thử bảo mật (Security Test): Bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật của dữ liệu và của hệ thống.
Kiểm thử khả năng phục hồi (Recovery Test): Bảo đảm hệ thống có khả năng khôi phục trạng thái ổn định trước đó trong tình huống mất tài nguyên hoặc dữ liệu; đặc biệt quan trọng đối với các hệ thống giao dịch như ngân hàng trực tuyến...

 + Nhìn từ quan điểm người dùng, các cấp độ kiểm thử trên rất quan trọng: Chúng bảo đảm hệ thống đủ khả năng làm việc trong môi trường thực.

  +  Lưu ý là không nhất thiết phải thực hiện tất cả các loại kiểm thử nêu trên. Tùy yêu cầu và đặc trưng của từng hệ thống, tuỳ khả năng và thời gian cho phép của dự án, khi lập kế hoạch, người Quản lý dự án sẽ quyết định áp dụng những loại kiểm thử nào.

Học kiểm thử phần mềm

6. Acceptance Test - Kiểm tra chấp nhận sản phẩm


- Thông thường, sau giai đoạn System Test là Acceptance Test, được khách hàng thực hiện (hoặc ủy quyền cho một nhóm thứ ba thực hiện). Mục đích của Acceptance Test là để chứng minh PM thỏa mãn tất cả yêu cầu của khách hàng và khách hàng chấp nhận sản phẩm (và trả tiền thanh toán hợp đồng).

- Acceptance Test có ý nghĩa hết sức quan trọng, mặc dù trong hầu hết mọi trường hợp, các phép kiểm tra của System Test và Accepatnce Test gần như tương tự, nhưng bản chất và cách thức thực hiện lại rất khác biệt.

- Đối với những sản phẩm dành bán rộng rãi trên thị trường cho nhiều người sử dụng, thông thường sẽ thông qua hai loại kiểm tra gọi là Alpha Test và Beta Test. Với Alpha Test, người sử dụng (tiềm năng) kiểm tra PM ngay tại nơi PTPM, lập trình viên sẽ ghi nhận các lỗi hoặc phản hồi, và lên kế hoạch sửa chữa. Với Beta Test, PM sẽ được gửi tới cho người sử dụng (tiềm năng) để kiểm tra ngay trong môi trường thực, lỗi hoặc phản hồi cũng sẽ gửi ngược lại cho lập trình viên để sửa chữa.

- Thực tế cho thấy, nếu khách hàng không quan tâm và không tham gia vào quá trình PTPM thì kết quả Acceptance Test sẽ sai lệch rất lớn, mặc dù PM đã trải qua tất cả các kiểm tra trước đó. Sự sai lệch này liên quan đến việc hiểu sai yêu cầu cũng như sự mong chờ của khách hàng. Ví dụ đôi khi một PM xuất sắc vượt qua các phép kiểm tra về chức năng thực hiện bởi nhóm thực hiện dự án, nhưng khách hàng khi kiểm tra sau cùng vẫn thất vọng vì bố cục màn hình nghèo nàn, thao tác không tự nhiên, không theo tập quán sử dụng của khách hàng v.v…

- Gắn liền với giai đoạn Acceptance Test thường là một nhóm những dịch vụ và tài liệu đi kèm, phổ biến như hướng dẫn cài đặt, sử dụng v.v… Tất cả tài liệu đi kèm phải được cập nhật và kiểm tra chặt chẽ.
Học kiểm thử phần mềm

7- Regression Test - Kiểm tra hồi quy

- Trước tiên cần khẳng định Regression Test không phải là một mức kiểm tra, như các mức khác đã nói ở trên. Nó đơn thuần kiểm tra lại PM sau khi có một sự thay đổi xảy ra, để bảo đảm phiên bản PM mới thực hiện tốt các chức năng như phiên bản cũ và sự thay đổi không gây ra lỗi mới trên những chức năng vốn đã làm việc tốt. Regression test có thể thực hiện tại mọi mức kiểm tra.

- Ví dụ: một PM đang phát triển khi kiểm tra cho thấy nó chạy tốt các chức năng A, B và C. Khi có thay đổi code của chức năng C, nếu chỉ kiểm tra chức năng C thì chưa đủ, cần phải kiểm tra lại tất cả các chức năng khác liên quan đến chức năng C, trong ví dụ này là A và B. Lý do là khi C thay đổi, nó có thể sẽ làm A và B không còn làm việc đúng nữa.

- Mặc dù không là một mức kiểm tra, thực tế lại cho thấy Regression Test là một trong những loại kiểm tra tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Tuy thế, việc bỏ qua Regression Test là “không được phép” vì có thể dẫn đến tình trạng phát sinh hoặc tái xuất hiện những lỗi nghiêm trọng, mặc dù ta “tưởng rằng” những lỗi đó hoặc không có hoặc đã được kiểm tra và sửa chữa rồi!


Học kiểm thử phần mềm

TÓM TẮT

Trên đây là tổng quan về các mức và loại kiểm tra phần mềm  cơ bản. Thực tế nếu đi sâu vào từng mức và loại kiểm tra, còn có rất nhiều kiểm tra đặc thù khác nữa, mang tính chuyên biệt cho từng vấn đề hoặc từng loại ứng dụng. Tuy nhiên, những mức độ và loại kiểm tra nêu trên là cơ bản nhất và có thể áp dụng trong hầu hết các loại ứng dụng PM khác nhau.

Học kiểm thử phần mềm


Kết thúc bài 1- Đồ Họa Online  sẽ giới thiệu các bạn loạt hướng dẫn về Công cụ test hiệu năng Website JMETER trong bài viết tới trong loạt bài kiểm thử phần mềm  .Cùng theo dõi nhé 

2 nhận xét :

Ad có biết kiểm thử automation ko, làm vài bài viết đi . Mình cũng đang học

Post a Comment